Quản lý ca hay quản lý trường hợp được xem như là một tiến trình hợp tác, kết nối các nguồn lực trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, nhóm yếu thế được hỗ trợ bởi các tổ chức xã hội và nhân viên xã hội.

Trong các cơ sở y tế cụ thể là trong bệnh viện, quản lý trường hợp giúp người bệnh có thể tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ xã hội nhằm tạo điều kiện tốt nhất góp phần thúc đẩy quá trình điều trị bệnh một cách hiệu quả nhất cho họ thông qua “Tiến trình hợp tác bao gồm việc đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch, thúc đẩy sự hợp tác, điều phối các nguồn lực, lượng giá và biện hộ cho những lựa chọn và những dịch vụ đáp ứng nhu cầu chăm sóc một cách toàn diện cho cá nhân và gia đình thông qua việc liên lạc, giao tiếp và những nguồn lực sẵn có nhằm thúc đẩy chất lượng dịch vụ, tạo ra hiệu quả trong hỗ trợ chăm sóc và điều trị”1

Trong bài viết tác giả sẽ giới thiệu những nội dung cơ bản bao gồm khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc của quản lý trường hợp, qua đó giúp các nhân viên xã hội đang làm việc tại bệnh viện hiểu hơn về tiến trình này đối với việc hỗ trợ người bệnh và gia đình trong quá trình điều trị tại bệnh viện.

1. Khái niệm

Quản lý ca hay quản lý trường hợp là sự điều phối mang tính chuyên nghiệp các dịch vụ xã hội và dịch vụ khác nhằm giúp cá nhân/gia đình đáp ứng nhu cầu được bảo vệ hay chăm sóc2

Hiệp hội Quản lý Vụ việc Hoa Kỳ (ACMA) định nghĩa nó là một cách khác. “Quản lý trường hợp trong các bệnh viện và hệ thống chăm sóc sức khoẻ là một mô hình cộng tác bao gồm bệnh nhân, y tá, nhân viên xã hội, bác sĩ, các bác sĩ khác, người chăm sóc và cộng đồng. Mục tiêu của việc quản lý trường hợp bao gồm việc đạt được sức khoẻ tối ưu, tiếp cận chăm sóc và sử dụng hợp lý các nguồn lực, cân bằng với quyền tự quyết của bệnh nhân.

2. Đặc điểm của quản lý trường hợp

  • Quản lý trường hợp là tiến trình tương tác nhằm trợ giúp thân chủ (TC) đáp ứng nhu cầu, giải quyết vấn đề. Ca ở đây là trường hợp cụ thể của một cá nhân cần can thiệp.
  • Tiến trình này bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu của thân chủ, lên kế hoạch trợ giúp từ đó tìm kiếm, kết nối và điều phối các dịch vụ, nguồn lực để chuyển giao tới TC, giúp họ đáp ứng nhu cầu, giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả.
  • Đây là hoạt động đòi hỏi tính chuyên môn vì vậy người làm quản lý ca cần có kiến thức chuyên môn CTXH cũng như kiến thức nền tảng về hành vi con người, gia đình và kiến thức xã hội khác. Người làm quản lý ca thường là đại diện cho cơ quan cung cấp dịch vụ, họ cũng là người đại diện cho TC để biện hộ quyền lợi, huy động nguồn lực, dịch vụ cho họ. Nhiệm vụ cơ bản của người quản lý ca là đánh giá, liên kết, điều tiết nguồn lực và dịch vụ.
  • TC là cá nhân, người đang có vấn đề, họ đang có những nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, vì vậy họ cần sự trợ giúp. Tuy nhiên, khi trợ giúp cho cá nhân thì NVCTXH còn làm việc với gia đình họ, do vậy trong quản lý ca, đối tượng can thiệp chủ yếu là cá nhân, nhưng cũng có lúc cần làm việc với gia đình

3. Nguyên tắc của quản lý trường hợp

  • Tin tưởng vào thân chủ/ nguời bệnh (TC) và đảm bảo mối quan hệ tin tưởng giữa TC và NVCTXH
  • Quyền và trách nhiệm tự quyết định xuất phát từ TC
  • Tôn trọng tính bảo mật và thông tin riêng tư do TC cung cấp
  • Thái độ không phán xét đối với TC
  • Các dịch vụ trợ giúp cần thích hợp với nhu cầu của TC, đảm bảo tính tiết kiệm, hiệu quả từ nhiều khía cạnh (tài chính, thời gian…)
  • Thu hút sự tham gia của TC, gia đình, cộng đồng và các nhà cung cấp dịch vụ vào tiến trình quản lý ca (QLC)….

(Còn tiếp)

Tài liệu tham khảo:

http://www.cmsa.org/who-we-are/what-is-a-case-manager/

Định nghĩa quản lý ca theo Hiệp hội Công tác xã hội Thế Giới

3. SDRC, Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 7/2012 ((tài liệu tập huấn Quản Lý ca)

4. PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan, tài liệu Quản lý trường hợp với người sử dụng ma túy, 2014

5. Trần Văn Kham, Tổng quan các quan điểm về quản lý trường hợp trong công tác xã hội và khả năng ứng dụng ở Việt Nam, 2016 (Thông tin khoa học xã hội, số 3.2016)