Những đương đầu khó khăn với thân nhân bệnh nhi

Tác giả: Bác sĩ Phạm Ngọc Thanh

0
15

I. Mô tả vấn đề

Không có người thầy thuốc khiêm tốn nào có thể tự hào là yêu thương mọi bệnh nhân mọi lúc hoặc giao tiếp tốt với mọi người. Có một số bệnh nhân làm cho người thầy thuốc bị nhói tim và cảm thấy mệt mỏi.

II. Những yếu tố gây khó khăn trong sự đương đầu

Những tình huống gây những cảm xúc tiêu cực khác nhau tùy mỗi nhân viên y tế. Mỗi người nên đề cao cảnh giác và nhận biết nội tâm của mình về những nhạy cảm và đáp ứng để giảm thiểu tối đa những cuộc đối đầu và triển khai chiến lược để đảm bảo sức khỏe bản thân.

Nguồn: OUCRU

A. Mối quan hệ giữa thầy thuốc và thân nhân.

Chúng ta dễ phàn nàn thân nhân. “Bà mẹ này dốt nát, khó tính, không hợp tác.” Thường chúng ta hãy đỗ lỗi cho thân nhân, nên mối quan hệ xấu đi. Cả 2 bên đều có trách nhiệm trong việc xây dựng mối quan hệ.

B. Tính mập mờ.

Nhân viên y tế được huấn luyện để giải quyết vấn đề và hoàn thành nhiệm vụ. Họ muốn bệnh được chẩn đoán và triệu chứng được chữa lành. Tuy nhiên, nhiều vấn đề của bệnh nhân gây thách thức. Một lý do gây khó khăn trong mối quan hệ là cả nhân viên y tế và thân nhân đều cảm thấy khó chịu vì tính mập mờ. Bệnh nhân có triệu chứng không thuộc về bất kỳ bệnh gì rất phiền toái và gây ấm ức.

C. Thân nhân quá lo lắng.

Ở Nhi khoa, một thân nhân mô tả triệu chứng của bệnh nhân một cách quá lo lắng và quá cảm xúc cũng giống như trạng thái nghi bệnh (thuật ngữ tiếng anh: hypochondria) ở người lớn. Nếu ta vội kết luận: “Chính thân nhân là người có vấn đề, chứ không phải bệnh nhân!” thì ta không thể nhận ra vấn đề, không thấu cảm và không có trị liệu đồng cảm.

D. Chậm đáp ứng điều trị

Bác sĩ thường muốn thấy bệnh nhân chóng bình phục, nên dễ chán nản khi bệnh nhân không đáp ứng điều trị. Ta cần hợp tác với thân nhân trong tình huống này: “Tôi biết người nhà muốn cho cháu khoẻ ngay. Tôi cũng thế. Nhưng chúng ta cần kiên nhẫn ít ngày nữa.Chúng ta đang làm đúng”.

E. Sự giới hạn của thầy thuốc

Mọi nhân viên y tế phải đương đầu với một số vấn đề, làm cho họ giao tiếp ít hiệu quả hơn, vì có những nhạy cảm đặc biệt. Có thể do nhân cách của thân nhân, nhưng cũng có thể do căn bệnh của bệnh nhân đụng đến một giây thần kinh nhạy cảm của bác sĩ. Điều này dẫn đến cơ chế đồng nhất hóa, ảnh hưởng đến sự thấu cảm của bác sĩ. Điều căn bản là bác sĩ cảnh giác về những yếu đuối của bản thân và đừng để những yếu đuối đó chồng chéo với việc chăm sóc bệnh nhân. – Bác sĩ hãy tự biết mình.

  1. Một ngăn trở thường gặp gây sự khó khăn trong giao tiếp là nhân viên y tế khó chấp nhận những giới hạn của mình. Một thân nhân “mua sắm” chăm sóc y tế:”Một trẻ hàng xóm nhà tôi cũng bệnh như con tôi, đã được bác sĩ tiêm một mũi thuốc là khỏi bệnh ngay!” hoặc “tôi đọc trên Internet có một loại kháng sinh mới có hiệu quả lắm”, “bác sĩ nuôi được mấy con rồi?”, “bác sĩ đã chữa bao nhiêu trẻ giống con tôi?”, “bác sĩ hành nghề bao nhiêu năm rồi?”. Đó là luận điệu muốn làm cha, thiếu tôn trọng trong mối liên minh trị liệu giữa nhân viên y tế và thân nhân.
  2. Không nhận sự giới hạn của bản thân về năng lực cũng như kiến thức sẽ làm cho người nhân viên y tế cho rằng thân nhân khó tính. Nói đơn giản như “Anh chị biết không, tôi chưa hề thấy sự phối hợp các triệu chứng như trong trường hợp con anh chị, tôi muốn anh chị gặp BS X. là đồng nghiệp có kinh nghiệm hơn tôi trong lĩnh vực này”có thể làm giảm căng thẳng của người thầy thuốc và nỗi lo âu của thân nhân.

F. Khác biệt văn hóa.

  1. Có những dân tộc không thích nhận thông tin và muốn bác sĩ quyết định mọi sự cho họ, thay vì cộng tác với bác sĩ trong công tác trị liệu.
  2. Một số người cảm thấy bị làm hại khi được thông báo bệnh nặng và tiên lượng xấu. Hệ thống niềm tin của bệnh nhân cần được bác sĩ khai thác và tôn trọng, mặc dù bác sĩ có những sở thích khác.
  3. Một số người có thể đau khổ vì bị áp lực tuân theo ý của bác sĩ, vì sợ chọc giận bác sĩ và vì thiếu kiến thức.
  4. Bất đồng ngôn ngữ cũng cản trở giao tiếp tốt.

G. Giới hạn mập mờ.

Một số thân nhân không muốn nhận trách nhiệm và trút mọi sự trên vai của bác sĩ. “Thưa bác sĩ, bác sĩ hãy nói tôi phải làm gì? Xin bác sĩ giúp tôi”. Bác sĩ cần nâng đỡ, động viên các nguồn trợ lực của thân nhân và giúp gia đình chịu trách nhiệm về các vấn đề của họ. Nhìn nhận và vạch ranh giới giữa bác sĩ và thân nhân là một trong những nguyên tắc chính yếu để tránh khó khăn trong giao tiếp.

H. Thái độ phê phán.

 Ngoài nhu cầu uy quyền, thành công và ước muốn làm vui lòng, có một số bản tính tự nhiên của bác sĩ ngăn trở giao tiếp. Có người không thích trẻ béo phì, người khác phản ứng quá đáng khi bệnh nhân dơ bẩn. Cách ăn mặc, định hướng tính dục, kiểu cách có thể gây phản ứng cảm xúc ở người trị liệu một cách vô thức.

I. Đồng nhất hóa quá đáng.

Một số chẩn đoán như khiếm khuyết phát triển, ung thư máu, mù lòa, có thể khơi dậy những cảm giác dựa trên những kinh nghiệm riêng tư của nhà lâm sàng ảnh hưởng đến sự đương đầu. Đồng nhất hóa quá đáng, cũng là thiếu ranh giới, ngăn trở mối liên minh trị liệu như một sự thiếu thấu cảm.

J. Vấn đề tổ chức.

Đó là bác sĩ thiếu thời gian, khó có dữ liệu, thân nhân và bệnh nhi chờ đợi lâu làm cho họ nổi giận, áp lực do kiểm tra chất lượng. Khi bác sĩ cảm thấy mệt mỏi và không được ai giúp đỡ để vượt qua những trở ngại, thì bác sĩ có thể chuyển những sự ấm ức sang hệ thống khác.”Tôi có thể hiểu anh chị không vui vì anh chị không gặp lại bác sĩ hôm qua, Tôi cũng cảm thấy khó khăn vì tôi không có đủ thông tin trong tay. Thôi thì chúng ta cố gắng hết sức có thể”.

K. Thiếu thời gian.

Trong khoa Khám Bệnh, thân nhân có thể nổi giận vì phải chờ lâu. Đây là những bệnh nhân đau khổ từ những vấn đề tâm lý xã hội và cảm xúc không thể đương đầu với những khó khăn trong việc khám bệnh hằng ngày. Các bệnh nhân đến không hẹn trước, mang theo 2 con, hoặc xin tư vấn cho những thành viên khác trong gia đình, cần được hướng dẫn lại với giới hạn phù hợp. Điều này sẽ tiết kiệm thời gian và sự ấm ức của nhà lâm sàng để học biết về nhân cách bệnh lý của bệnh nhân càng sớm càng tốt.

Mỗi khi nhà lâm sàng cảm thấy buồn bực và mất kiên nhẫn, có thể tự hỏi: “Cái gì sai? Tại sao tôi giận dữ? Tại sao thân nhân này có hành vi hung bạo? Tôi có thể làm cách nào khác? Tôi học được gì từ sự đương đầu khó khăn này để có thể giúp gia đình hoặc thân nhân?”

III. Ứng xử với tình huống khó khăn.

A. Đối mặt với vấn đề

Nhìn nhận đây là sự đương đầu chứ không phải là thân nhân khó khăn, đây là bước quan trọng nhất. Có một số kỹ thuật hữu ích.

  1. Giáp mặt thân nhân. “Anh chị có vẻ giận dữ. Anh chị có thể cho tôi biết tại sao?”
  2. Nhìn nhận sự khó khăn. ” Tôi đang thấy khó khăn. Tôi có cảm tưởng chúng ta đang đi ngược chiều với nhau. Chúng ta thử bắt đầu lại”.
  3. Dùng sự quan tâm chung đối với trẻ.”Chúng ta hãy cùng xem trẻ đi. Có lẽ chúng ta quan sát những gì liên quan đến trẻ, rồi chúng ta sẽ thảo luận phác đồ điều trị”.
  4. Dùng một dấu hiệu cụ thể muốn giúp đỡ. Ví dụ, khi một thân nhân lo lắng cho một trẻ đi học về 1 mình, thì ta cho phép họ gọi điện thoại cho người hàng xóm.

B. Nới rộng hệ thống.

Sau khi đã thiết lập ranh giới, có thể nới rộng hệ thống.

  1. Mời các thành viên khác trong gia đình.”Chị có thể gọi điện cho chồng chị vào bệnh viện không?”
  2. Gọi các bạn đồng nghiệp khác để được hỗ trợ.
  3. Nhờ đến cộng đồng: giáo sĩ, ông bà.

C. Có thời gian.

Nhiều vấn đề không thể được giải quyết trong 1 lần khám. Cần hẹn lại lần khác để nhà trị liệu có thời gian suy nghĩ. Thường loại bệnh nhân hay làm phiền bác sĩ là những người đòi tái khám tức khắc.