Kiệt sức nghề nghiệp và cách hóa giải (phần 1)

Ts. Nguyễn Thị Hồng Loan

0
113

Cuộc sống của mỗi chúng ta được hình thành và phát triển qua những mối liên hệ thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó không thể không kể đến mối liên hệ của mỗi chúng ta với nghề nghiệp của mình. Khi mối liên hệ này không tốt đẹp, thuận lợi, sẽ tạo ra những khó khăn, cản trở sự thăng tiến của chúng ta và có thể dẫn đến tình trạng kiệt sức về mặt tinh thần vì nghề nghiệp. Những số liệu mới nhất cho thấy số người rơi vào tình trạng kiệt sức nghề nghiệp ngày càng gia tăng. Do đó, trong giới hạn của bài này, sau khi đưa ra định nghĩa về từ ngữ, chúng tôi sẽ bàn tới các biểu hiện và quy trình diễn tiến của tình trạng kiệt sức nghề nghiệp cũng như những yếu tố ảnh hưởng, cuối cùng là một vài đề nghị về cách phòng ngừa và hóa giải chứng kiệt sức này.

  1. Kiệt sức nghề nghiệp và sự căng thẳng
    • Từ ngữ “kiệt sức nghề nghiệp – burnout” trong lãnh vực tâm lý xuất hiện và mang ý nghĩa chuyên biệt vào thập niên 70 tại Hoa Kỳ trong bối cảnh của những người làm về dịch vụ trực tiếp giúp người như bác sĩ, tâm lý gia, nhân viên ý tế xã hội…
    • “Kiệt sức nghề nghiệp” là một trạng thái kiệt sức, cạn kiệt hoàn toàn các nguồn sinh lực, sự kéo dài liên lỉ của 3 yếu tố: kiệt quệ tình cảm, rã rượi thể lý, buông xuôi ý chí. Tình trạng kiệt sức này xuất hiện khi một người cảm thấy choáng ngợp, áp đảo đến suy sụp và không thể đáp ứng những đòi hỏi liên tục của công việc. Họ bắt đầu mất dần sự thích thú và động lực của công việc, niềm đam mê nghề nghiệp bị tan biến, cảm giác không được đón nhận và tưởng thưởng đúng như nghề nghiệp chuyên môn. Chứng kiệt sức nghề nghiệp sẽ làm cho người rơi vào tình trạng này cảm thấy mình bị khống chế năng xuất làm việc, sinh lực bị bào mòn, cảm nghĩ mình vô dụng, vô vọng, hoài nghi và sự bực bội ngày càng gia tăng. Họ cảm thấy mình chẳng có gì đáng để dấn thân và trao tặng.
  2. Sự khác biệt giữa căng thẳng- stress và tình trạng kiệt sức nghề nghiệp
    • Kiệt sức nghề nghiệp có thể là một sự căng thẳng kéo dài liên lỉ, nhưng không phải là một tình trạng căng thẳng nặng. Sự căng thẳng nặng (stress) liên quan đến cái gọi là “quá nhiều”: quá nhiều áp lực đòi hỏi về thể lý cũng như tâm lý. Người bị căng thẳng vẫn có thể tưởng tượng, suy nghĩ, nếu người đó có thể điều khiển và sắp xếp lại những đòi hỏi và họ sẽ cảm thấy nhẹ nhàng. Chứng kiệt sức nghề nghiệp liên quan đến cái gọi là “không đủ”. Người bị kiệt sức nghề nghiệp cảm thấy trống rỗng, mất hết động cơ và nghị lực. Người trải nghiệm chứng kiệt sức nghề nghiệp thường mất hết hy vọng và không tin tưởng bất cứ sự thay đổi tích cực nào cho bản thân cũng như hoàn cảnh. Nếu căng thẳng quá mức giống như bị nhấn chìm trong trách nhiệm thì kiệt sức nghề nghiệp lại giống như tình trạng cạn kiệt. Điểm khác biệt nữa giữa căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp là khi một người bị căng thẳng thì họ luôn lưu tâm rằng họ đang rất căng thẳng nhưng khi bị kiệt quệ nghề nghiệp thì họ sẽ không thường đề cập đến nó.

Căng thẳng

Kiệt sức nghề nghiệp

Đặc trưng là có liên quan quá mức

Đặc trưng là không liên quan

Xúc cảm quá mức

Xúc cảm tê liệt

Tạo nên sự cấp bách và quá hiếu động

Tạo nên sự vô dụng và vô vọng

Mất năng lực

Mất động cơ, lý tưởng, và hy vọng

Dẫn đến rối nhiễu lo âu

Dẫn đến sự thờ ơ và trầm cảm

Thiệt hại trước hết về thể lý

Thiệt hại trước tiên về cảm xúc

Có thể kết liễu cuộc đời quá sớm

Có thể làm cho đời dường như vô giá trị

Tiếp theo

Tài liệu tham khảo

Casserley, T (2009), Learning form Burnout: Developing Sustainable Leaders and Avoiding Career Derailment, Boston: Elsevier/ Butterworth-Heineman.

Joshi, V. V. (2005), Stress: from Burnout to Balance, London: Response Books.

Sherman, J. R. (1994), Preventing Caregiver Burnout, Minnesota: Pathway Books.

Leiter, M. P. (2005), Banishing Burnout: Six Strategies for Improving Your Relationship with Work, San Francisco: Jossey-Bass.

Maslach, C.; Schaufeli, W. B. & Leiter, M. P. (2001), “Job Burnout”, Annual Reviwew Psychology, 52: 397-422.

Maslach, C & Leiter, M. P (2008), “Early Predictors of Jobs Burnout and Engagement”, journal of Applied Psychology, 93: 498-512.

Schaufeli, W. B; Leiter, M. P. & Maslach, C. (2009), “Burnout: 35 Years of Research and Practice”, Career Development International, 14: 204-220.

Villa, I. V. G. (2005), Self-Empowerment through Anger and Burnout Management.

UNAIDS, Preventing Career Burnout: Inter-Mission Care and Rehabilitation Society, Geneva: UNAIDS, 2008.